Ý nghĩa ngày rằm tháng bảy và kinh vu lan

30.08.2017

 

Rằm tháng Bảy, Tết Trung nguyên, lễ Vu Lan còn được hiểu là lễ báo hiếu, là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo.

 

Rằm tháng Bảy, ngày Xá tội vong nhân của phong tục Á Đông. Theo tín ngưỡng dân gian, là ngày mở cửa ngục, ân xá cho vong nhân nên có lễ cúng Cô Hồn (vào buổi chiều) cho các vong linh không nhà cửa, không nơi nương tựa, không có thân nhân trên Dương thế thờ cúng, và là ngày mọi tù nhân ở Địa ngục có cơ hội được xá tội, được thoát sinh về cảnh giới an lành.

Vu Lan là từ viết tắt của Vu-lan-bồn cũng được gọi là Ô-lam-bà-noa là cách phiên âm Phạn-Hán nghĩa là "treo (ngược) lên". Thế nên còn gọi là Giải Đảo huyền "giải tội bị treo ngược lên".

Xuất phát từ sự tích Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (tổ tiên, ông bà nói chung) - cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.

Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẹ ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sinh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình, không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng đã hóa thành lửa đỏ.

Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: "Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của Chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để cung thỉnh chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó".

 

Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng: chúng sinh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó, ngày lễ Vu Lan ra đời.

Ngày Rằm tháng bảy có nhiều ý nghĩa:

1. Ngày Phật hoan hỷ

Ngày Rằm tháng Bảy là ngày đức Phật hoan hỷ, bởi lẽ trong thất chúng đệ tử của Phật, chúng tỳ kheo là chúng đệ tử gần gũi nhất, thừa đương Phật pháp để truyền bá giáo hóa chúng sinh, mang hình dáng của Phật làm gương mẫu ở thế gian; ba tháng An cư Kiết hạ của Chư tăng kết thúc vào ngày Rằm tháng Bảy Âm lịch. Theo luật Phật chế, trong ba tháng an cư, chúng tỳ kheo phải cấm túc ở yên, hạn chế tối đa sự đi lại. Một là vì phong thổ Ấn Độ lúc bấy giờ mùa hạ là mùa mưa, có các loài côn trùng sinh sản ra rất nhiều, mà chúng tăng đi khất thực sẽ dẫm đạp lên nhiều loại côn trùng, làm tổn thương đến lòng từ bi tế vật.

Hai là, chúng tăng đi khất thực thì y, áo, bình bát bị thấm ướt, mất trang nghiêm.

Ba là, đức Phật dạy chúng tỳ kheo trong ba tháng mùa mưa, phải cấm túc an cư hạn chế việc đi ra ngoài để tập trung vào sự tu niệm, củng cố sự sống chung, thanh tịnh, hòa hợp, cảnh tỉnh thân tâm để tinh tấn trên con đường đạo hạnh. Cho nên, một khi đệ tử của Phật tu hành trong ba tháng viên mãn, thanh tịnh, kết thúc ba tháng an cư, đức Phật vui mừng lắm, vì thế ngày kết thúc này được gọi là ngày Phật vui mừng.

 2. Ngày Tăng tự tứ

Ngày Tự tứ là ngày chúng tăng sau ba tháng an cư tu tập, nghĩ rằng: “Tuy mình đã gắng tu như thế, nhưng không chắc đã tránh hết lỗi lầm, nên khi tròn ba tháng (Rằm tháng Bảy), cùng nhau tập trung lại, cầu mong những vị có giới đức thanh tịnh hơn mình chỉ lỗi lầm cho. Nếu mình tự thấy mắc phải lỗi lầm đó phải phát lộ sám hối”. Đó là một việc hết sức đặc biệt trong ngày tự tứ.

Thông thường, mỗi khi một người có lỗi lầm là tìm cách né tránh, tìm cách che dấu kẻo sợ người khác biết thì xấu hổ, hoặc sợ nếu họ biết lỗi của mình thì lần sau mình không làm lại được nữa, cho nên thường thường là che dấu, không được bộc lộ; trừ khi có ai hỏi đến, kẹt lắm mới nói tới có phạm, có vấp lỗi nọ lỗi kia; hoặc giả, có phát lộ sám hối chăng thì cũng phát lộ âm thầm trước ngôi Tam Bảo, chớ ít khi công khai nhờ người khác chỉ lỗi cho mình ra giữa đại chúng.

Nhưng theo đạo Phật, ba tháng hạ an cư xong, đức Phật dạy hàng tỳ kheo phải cầu người khác chỉ lỗi cho mình, nghĩa là không phải để người khác chỉ mà phải tự mình phải cầu người khác tự do chỉ cho, mình phải đối trước họ mà thưa: “Thưa Đại đức, ngày nay chúng tăng tự tứ, tôi cũng tự tứ. Tôi có điều gì sai phạm mà Đại đức thấy, nghe, hoặc nghi, xin Đại đức thương xót chỉ cho, nếu tôi thấy có phạm thì xin như pháp sám hối. Tôi không phàn nàn, không thắc mắc, và tôi không có oán trách chi Đại đức hết!”. 

Đó chính là ý nghĩa mà mình phát tâm cầu mong được thanh tịnh, chứ không chút nào che dấu, thành tâm cầu xin người khác tự do nói lỗi cho mình, không e dè chi hết, nếu thấy có lỗi thì cứ chỉ cho. Đó là một thái độ rất cao thượng, cởi mở để làm cho mình sạch tội lỗi. Vì vậy, ngày đó gọi là ngày Tăng tự tứ. Tự tứ nghĩa là cầu người khác chỉ lỗi của mình ra, để cho mình biết mà sám hối.

3. Ngày Tăng thọ tuế

Thọ tuế nghĩa là nhận được tuổi. Theo thế gian, nếu cha mẹ sinh con ra đủ một năm (mười hai tháng) thì gọi là tròn một tuổi. Nhưng theo luật Phật chế, hàng xuất gia thọ giới của đức Phật, không tính tuổi theo năm, tháng kiểu thế gian trên, mà tính tuổi theo hạ lạp. Nghĩa là năm nào có an cư kiết hạ được trọn vẹn thì được tính một tuổi. Ví dụ: Vị nào an cư kiết hạ từ 15.4 đến 15.7 Âm lịch là mãn hạ, như vậy được tính một năm hạ, tức một tuổi hạ.

4. Ngày Xá tội vong nhân

Vu-lan là ngày cầu siêu độ cho tiền nhân quá cố của người con Phật. Sự tích Vu-lan bắt nguồn từ việc báo hiếu của tôn giả Mục-kiền-liên. Tích này được chép trong kinh Vu-lan-bồn. Đối với những người nào tạo tội ác thì sẽ bị đọa vào nơi cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, chịu sự thống khổ cùng cực giống như người bị treo ngược. Nghĩ đến công ơn cha mẹ, khi ngày Vu-lan đến, phật tử thường đem tâm chí thành, chí hiếu sắm sửa vật dụng cúng dường Tam bảo để cầu nguyện cùng với Chư tăng sau ba tháng an cư chú nguyện cho tiền nhân, tiên vong của mình thoát khỏi cảnh khổ đau cùng cực y như giải tội bị treo ngược.

Ở đây chúng ta báo hiếu cha mẹ bằng cách biết công ơn cha mẹ sâu dày như non cao bể cả, mà tiền nhân của chúng ta đã nhắc tới:

“Công cha như núi ngất trời,

Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông,

Núi cao biển rộng mênh mông,

Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi”.


Tiền nhân chúng ta nói thiết tha lắm; “Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi”, cốt ghi chín chữ cù lao là chúng ta có hiếu rồi. Nhưng báo hiếu cha mẹ bằng hình thức chưa đủ, mà còn phải báo hiếu bằng tinh thần.

Trong kinh, đức Phật dạy rằng: Cha mẹ chưa an trú trong chánh pháp thì làm sao giúp đỡ, dắt dẫn cha mẹ an trú trong chính pháp; cha mẹ chưa an trú trong điều Lành thì làm sao cho cha mẹ an trú trong điều Lành; cha mẹ chưa quy y Tam Bảo, thì nên đưa cha mẹ an trú trong quy y Tam Bảo.

Cha mẹ không những hưởng được những phúc lạc vật chất bên ngoài mà còn hưởng được phúc lạc trong tâm hồn, giải thoát bớt phiền trược, xa lánh được thế gian chấp trước, vọng tưởng luân hồi sinh tử mà đức Phật đã nhắc nhở. Khi cha mẹ giải thoát, an vui thì sự báo hiếu của người con mới thành tựu. Nên cổ đức có câu: “Phụ mẫu đắc ly trần, hiếu đạo phương thành tựu”. (Cha mẹ được giải thoát, lìa khỏi trần ai thì người con mới tròn hiếu đạo). Là người phật tử, hãy ghi nhớ lời Phật dạy như vậy để hàng ngày tu niệm, hàng ngày hồi hướng công đức về cho tiên nhân của mình; nhất là trong ngày lễ Vu Lan, thành tâm chí kính, niệm Phật, tụng kinh, lạy Phật, cúng dường Tam bảo, cúng dường chư Tăng tự tứ, để cầu mong sự chú nguyện của chư Tăng cho tiên vong của mình thoát khỏi u đồ mà siêu sinh lạc quốc. Đó mới tạm gọi là con hiếu, là người phật tử thuần thành trong mùa báo hiếu vậy.

 

 

KINH VU LAN

Hòa Thượng Thích Trí Quang Dịch Giải

--- o0o ---

 

Phần Trì Tụng

Khai Kinh

 

Đại từ đại bi
Thương xót chúng sinh,
Đại hỷ đại xả
Cứu vớt hàm thức,
Ánh sáng tướng tốt
Dùng tự trang nghiêm,
Đệ tử chí tâm
Qui mạng đảnh lễ.

 

Kính Lạy Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Cùng Phật Pháp Tăng Vô Thượng Tam Bảo.

 

Kính Lạy Đức Phật Bổn Tôn A Di Đà Như Lai, Cùng Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

 

Kính Lạy Tôn Giả Đại Mục Kiền Liên, Cùng Hết Thảy Liệt Vị Bồ Tát, Duyên Giác Và Thanh Văn.

 

 

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 Lần).

 

Bài chú tinh túy của đại từ bi :

 

Nam Mô Hát Ra Đát Na Đá Ra Dạ Da. Nam Mô A Rị Da.

 

Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da. Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da.

 

Ma Ha Tát Đỏa Bà Da. Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da.

 

Án. Tát Bàn Ra Phạt Duệ. Số Đát Na Đát Tả.

 

Nam Mô Tất Cát Lật Đỏa Y Mông A Rị Da.

 

Bà Lô Cát Đế Thất Phật Ra Lăng Đà Bà.

 

Nam Mô Na Ra Cẩn Trì. Hê Rị Ma Ha Bàn Đa Sa Mế. Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng. A Thệ Dựng. Tát Bà Tát Đá Na Ma Bà Dà. Ma Phạt Đặc Đậu. Đát Điệt Tha. Án. A Bà Lô Hê, Lô Ca Đế. Ca Ra Đế. Di Hê Rị. Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa. Tát Bà Tát Bà. Ma Ra Ma Ra, Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng. Câu Lô Câu Lô Yết Mông. Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế, Ma Ha Phạt Xà Da Đế. Đà Ra Đà Ra. Địa Rị Ni. Thất Phật Ra Da. Dá Ra Dá Ra. Mạ Mạ. Phạt Ma Ra. Mục Đế Lệ. Y Hê Y Hê, Thất Na Thất Na. A Ra Sâm Phật Ra Xá Lị, Phạt Sa Phạt Sâm. Phật Ra Xá Da. Hô Lô Hô Lô Ma Ra, Hô Lô Hô Lô Hê Rị. Sa Ra Sa Ra. Tất Rị Tất Rị. Tô Rô Tô Rô. Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ. Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ. Di Đế Lị Dạ. Na Ra Cẩn Trì. Địa Rị Sắt Ni Na. Ba Dạ Ma Na, Sa Bà Ha. Tất Đà Dạ, Sa Bà Ha. Ma Ha Tất Đà Dạ, Sa Bà Ha. Tất Đà Du Nghệ. Thất Bàn Ra Da, Sa Bà Ha. Na Ra Cẩn Trì, Sa Bà Ha. Ma Ra Na Ra, Sa Bà Ha. Tất Ra Tăng A Mục Khư Da, Sa Bà Ha. Sa Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ, Sa Bà Ha. Giả Cát Ra A Tất Đà Dạ, Sa Bà Ha. Ba Đà Ma Yết Tất Đà Dạ, Sa Bà Ha. Na Ra Cẩn Trì Bàn Dà Ra Da, Sa Bà Ha. Ma Bà Lị Thắng Yết Ra Dạ, Sa Bà Ha.

 

Nam Mô Hát Ra Đát Na Đá Ra Dạ Da. Nam Mô A Lị Da, Bà Lô Cát Đế. Thước Bàn Ra Dạ, Sa Bà Ha.

 

Án Tát Điện Đô, Mạn Đa Ra, Bạt Đà Da, Sa Bà Ha.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Nam Mô Thập Phương Đại Uy Đức Tăng Bảo. Nam Mô Vu Lan Duyên Khởi Đại Mục Kiền Liên Tôn Giả.

 

Tụng Kinh

 

     Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn ở nước Xá Vệ, trong khu vườn rừng Chiến thắng Thiện thí. Khi ấy tôn giả Đại Mục Kiền Liên mới thành tựu được sáu thứ thần thông muốn cứu cha mẹ, đền đáp ân đức sinh thành dưỡng dục, nên dùng thiên nhãn quan sát khắp cả thế giới luân hồi, nhìn thấy mẹ mình sinh trong ngạ quỉ, không có đồ ăn, không được thức uống, da liền với xương. Tôn giả thống thiết, lấy bát đựng cơm đem hiến cho mẹ. Bà mẹ nhận được, tức thì tay trái che lấy cái bát, tay phải vốc cơm. Nhưng mà cơm ấy chưa vào đến miệng đã thành than lửa, nên không ăn được. Tôn giả kêu lên, khóc lóc bi thảm, chạy về bạch rõ với đức Thế Tôn cảnh tượng như vậy.

 

     Đức Thế Tôn dạy, Đại Mục Kiền Liên, thân mẫu tôn giả gốc rễ tội chướng kết đã quá sâu, không phải năng lực một mình tôn giả có thể giải cứu. Dầu cho tôn giả hiếu thảo khóc than vang động trời đất, nhưng mà những vị thiên thần địa kỳ, tà ma ngoại đạo, các vị đạo sĩ và bốn thiên vương, cũng đều không thể làm gì cho được. Phải nhờ uy lực của Thập phương tăng mới được siêu thoát. Hôm nay Như Lai chỉ dạy tôn giả cách thức cứu vớt, để cho hết thảy những kẻ khổ nạn cùng được siêu thoát.

 

     Đại Mục Kiền Liên, Thập phương tăng chúng lấy rằm tháng bảy làm ngày tự tứ. Ngày ấy các người hãy vì tất cả cha mẹ bảy đời, cha mẹ hiện tại, những kẻ đang ở trong vòng khổ nạn, mà sắm trai soạn đủ hết mùi vị, các thứ trái củ, bồn chậu múc rưới, hương dầu đèn nến, giường có đồ nằm, đem đồ ngon nhất đặt vào trong bồn, hiến cúng Thập phương đại đức tăng chúng.

 

     Chính trong ngày này, các hiền thánh tăng hoặc tu thiền định ở trong rừng núi, hoặc đã thành tựu bốn thứ đạo quả, hoặc thường kinh hành dưới gốc đại thọ, hoặc là Thanh văn hay là Duyên giác đủ sáu thần thông giáo hóa tự tại, hoặc chính những vị Bồ tát đại sĩ đã lên thập địa mà lại phương tiện hiện tướng tỷ kheo. Tất cả qui tụ ở trong Tăng chúng, đồng đẳng nhất tâm mà thọ tự tứ. Vì có đầy đủ giới pháp thanh tịnh, cho nên đạo đức của Tăng chúng ấy sâu rộng mênh mông.

 

     Ai được hiến cúng Tăng chúng tự tứ đã nói trên đây, tất cả cha mẹ cùng với bà con trong đời hiện tại mà đã quá vãng thì thoát thống khổ ở trong ba đường -- thoát được tức thì, cơm áo tự nhiên; cha mẹ bà con trong đời hiện tại mà đang sống còn thì hưởng phước lạc, sống lâu trăm tuổi. Đến như cha mẹ bảy đời quá khứ thì sinh chư thiên, tự tại hóa sinh ở trong thiên giới hoa lệ chói sáng.

 

     Bấy giờ Thế Tôn qui định điều này: Thập phương tăng chúng trước hết chú nguyện cho người trai chủ, chú nguyện cho đến cha mẹ bảy đời. Định ý chú nguyện rồi mới thọ thực. Trước đó hãy đặt mọi thứ trai soạn trước án thờ Phật tại chỗ trai tăng hay trong chùa tháp, Tăng chúng chú nguyện rồi mới tự thọ.

 

     Khi ấy tôn giả Đại Mục Kiền Liên liệt vị đại sĩ đều rất hoan hỷ. Tiếng khóc bi thảm của ngài Mục Liên tức thì tan biến. Thân mẫu của ngài ngay trong ngày ấy thoát được thống khổ một kiếp ngạ quỉ.

 

     Tôn giả Mục Liên liền đó lại thưa, bạch đức Thế Tôn, thân mẫu của con đã được siêu thoát là nhờ năng lực công đức Tam bảo, trong đó gồm có uy lực Tăng chúng. Trong thì vị lai, hết thảy Phật tử có thể hay là không thể phụng hành thắng pháp Vu lan, cứu độ cha mẹ trong đời hiện tại cho đến bảy đời bằng cách làm theo lời đức Thế Tôn đã dạy như trên?

 

     Đức Thế Tôn dạy, Đại Mục Kiền Liên, lời tôn giả hỏi rất đúng và hay. Như Lai muốn nói, tôn giả lại hỏi. Đại Mục Kiền Liên, các vị tỷ kheo hay tỷ kheo ni, quốc vương vương tử, đại thần tể tướng, tam công bách quan cùng toàn dân chúng, ai muốn thực hành cái đức từ hiếu, thì trước nên vì cha mẹ hiện tại, kế đó nên vì cha mẹ bảy đời trong thì quá khứ, đến rằm tháng bảy -- ngày Phật hoan hỷ, ngày Tăng tự tứ -- đặt để trai soạn đủ các mùi vị vào bồn Vu lan, hiến cúng mười phương Tăng chúng tự tứ, cầu nguyện cha mẹ đang còn hiện tại sống lâu trăm tuổi, không bịnh không khổ; cha mẹ bảy đời trong thì quá khứ thoát khổ ngạ quỉ, sinh trong nhân loại hay trên chư thiên, phước lạc vô cùng. Đệ tử Như Lai thực hành từ hiếu, thì mỗi ý nghĩ thường thường tưởng nhớ cha mẹ hiện tại, cho đến cha mẹ bảy đời quá khứ. Hằng năm cứ đến ngày rằm tháng bảy, đem lòng từ hiếu ưởng nhớ song thân, sắm bồn Vu lan hiến cúng Phật đà, hiến cúng Tăng chúng, báo đáp ân đức từ ái nuôi dưỡng của cha của mẹ. Những ai đã là đệ tử Như Lai, thì phải tuân giữ cách thức trên đây.

 

     Khi ấy tôn giả Đại Mục Kiền Liên, cùng với bốn chúng đệ tử Thế Tôn, nghe lời ngài dạy ai cũng hoan hỷ và nguyện phụng hành.

 

Hoàn Kinh

 

     Bài kinh tinh túy của đại bát nhã :

 

     Quan Tự Tại Đại Bồ Tát Đã Đi Vào Bát Nhã Ba La Mật Đa Sâu Xa, Soi Thấy Năm Uẩn Đều Không, Vượt Mọi Khổ Ách. Ngài Nói, Tôn Giả Thu Tử, Sắc Chẳng Khác Không, Không Chẳng Khác Sắc; Sắc Tức Là Không, Không Tức Là Sắc. Thọ Tưởng Hành Thức Cũng Đều Như Vậy. Tôn Giả Thu Tử, Không ấy Của Các Pháp Không Sinh Không Diệt, Không Dơ Không Sạch, Không Thêm Không Bớt. Thế Nên Trong Không Không Sắc Thọ Tưởng Hành Thức, Không Nhãn Nhĩ TyՠThiệt Thân Ý, Không Sắc Thanh Hương Vị Xúc Pháp, Không Nhãn Giới Cho Đến Không Ý Thức Giới, Không Vô Minh Và Sự Diệt Tận Của Vô Minh, Cho Đến Không Lão Tử Và Sự Diệt Tận Của Lão Tử, Không Khổ Tập Diệt Đạo, Không Quán Trí, Không Thủ Đắc, Vì Không Thủ Đắc Gì Cả. Bồ Tát Vì Y Theo Bát Nhã Ba La Mật Đa Nên Tâm Không Vướng Mắc, Vì Không Vướng Mắc Nên Không Khiếp Sợ, Siêu Thoát Mộng Tưởng Thác Loạn, Cứu Cánh Niết Bàn. Phật Đà Cả Ba Thì Gian Vì Y Theo Bát Nhã Ba La Mật Đa Nên Được Vô Thượng Bồ Đề. Do Đó Mà Biết Bát Nhã Ba La Mật Đa Là Bài Chú Rất Thần Diệu: Bài Chú Rất Sáng Chói, Bài Chú Tối Thượng, Bài Chú Tuyệt Bậc Mà Đồng Bậc, Trừ Được Hết Thảy Khổ Não, Chắc Thật, Không Hư Ngụy. Nên Tôi Nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa. Ngài Liền Nói Chú ấy: Yết Đế, Yết Đế, Ba La Yết Đế, Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đề, Tát Bà Ha.

 

Biển ái nước mênh mông,


Sông mê sóng dồn dập,


Muốn báo ơn cha mẹ,


Phải niệm Phật Di Đà.


Nam Mô A Di Đà Phật (30 Đến 108 Tiếng).


Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát (3 Đến 7 Tiếng).


Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 Đến 7 Tiếng).


Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (3 Đến 7 Tiếng).

 

     Thần chú vãng sinh cực lạc :

 

     Nam Mô A Di Đa Bà Dạ, Đá Tha Dà Đá Dạ, Đá Địa Dạ Tha, A Di Lị Đô Bà Tì, A Di Lị Đá Tất Đam Bà Tì, A Di Lị Đá Tì Ca Lan Đế, A Di Lị Đá Tì Ca Lan Đá, Dà Di Nị, Dà Dà Na, Chỉ Đa Ca Lệ, Sa Bà Ha (21 Lần).

 

     Đệ tử chúng con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính lạy Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Như Lai, cùng Phật Pháp Tăng Vô Thượng Tam Bảo.

 

     Đệ tử chúng con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính lạy Đức Phật Bổn Tôn A Di Đà Như Lai, cùng Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

 

     Đệ tử chúng con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính lạy Tôn Giả Đại Mục Kiền Liên, cùng hết thảy liệt vị Bồ Tát, Duyên Giác và Thanh Văn.

 

     Đệ tử chúng con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính lạy thắng pháp vu lan, cùng hết thảy Phật pháp giải thoát chúng sinh.

 

     Đệ tử chúng con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính lạy mười phương đại uy đức tự tứ tăng chúng.

 

Đệ tử chúng con
Hết lòng chân thành
Tụng kinh vu lan,
Cúng tăng tự tứ,
Trì pháp bát nhã,
Niệm hiệu Di Đà,
Hồi hướng công đức
Thù thắng như vậy,
Nguyện cầu cha mẹ
Cùng với bà con
Trong đời hiện tại,
Bao kiếp quá khứ,
Được nhờ thần lực
Bất khả tư nghị
Của đức bổn tôn
A Di Đà Phật,
Của Phật Pháp Tăng
Tam Bảo vô thượng,
Đại phóng uy quang
Bí mật da trì.
Làm cho cha mẹ
Bà con chúng con,
Cùng với pháp giới
Hết thảy chúng sinh,
Bao nhiêu vọng nghiệp
Nơi thân miệng ý
Hết còn sức lực
Gây nhân quả khổ,
ở trong đời ác
Gặp ma hóa phật,
Sống trong lục đạo
Cực lạc hiện tiền.
Lại nguyện cùng nhau
Đời đời kiếp kiếp
Kết thành từ bi
Bồ đề quyến thuộc.

 

Tự Qui Y Phật, Xin Nguyện Chúng Sinh Thể Theo Đạo Cả, Phát Lòng Vô Thượng.

 

Tự Qui Y Pháp, Xin Nguyện Chúng Sinh Thâm Nhập Kinh Tạng, Trí Tuệ Như Biển.

 

Tự Qui Y Tăng, Xin Nguyện Chúng Sinh Thống Lý Đại Chúng, Hết Thảy Không Ngại.

 

Nguồn: Phật giáoTu viện Tường Văn

Tags:

Share on Facebook
Share on Twitter
Please reload

  • Untitled-2